NHÀ TÙ PHÚ QUỐC
Di tích lịch sử cấp Quốc gia
Trại giam Tù binh Chiến tranh Phú Quốc, hay Trại giam Tù binh Cộng sản Phú Quốc là một trại giam nằm ở cực nam đảo Phú Quốc, tại xã An Thới. Trong chiến tranh Đông Dương, trại giam này có tên là Nhà lao Cây Dừa.
Đây là trại giam tù binh trung tâm toàn Việt Nam Cộng hòa, từng giam giữ hơn 32.000 tù binh (40.000 tù nhân nếu tính cả tù chính trị nhiều thời kỳ). Trong Chiến tranh Việt Nam, tù binh chiến tranh Trại giam tù binh Phú Quốc đã phải chịu những hình phạt, tra tấn như đóng đinh vào tay, chân, đầu; đốt dây kẽm cháy đỏ đâm vào da thịt, đục răng, trùm bao bố chế nước sôi hoặc đổ lửa than, ném vào chảo nước sôi, thiêu sống, chôn sống. Trong thời gian tồn tại không đầy 6 năm (từ tháng 6/1967 đến 3/1973) trại giam tù binh Phú Quốc, có hơn 4.000 người chết, hàng chục ngàn người bị thương tật tàn phế.
Trại giam Tù binh Chiến tranh Phú Quốc có tất cả là 12 khu (năm 1972) được đánh số từ khu 1 đến khu 12. Riêng khu 13, 14 được xây dựng thêm vào cuối năm 1972. Mỗi khu trại giam có khả năng chứa khoảng 3000 tù nhân. Năm 1972, có khoảng 12x 3000 = 36 000 tù nhân. Mỗi khu trại giam lại được chia làm nhiều phân khu. Thường thì có 4 phân khu, trong 1 khu. Một phân khu chứa được 950 tù binh. Riêng phân khu B2 dành riêng để giam giữ các sĩ quan. Tù binh có cấp bậc lớn nhất là Thượng tá. Trại giam Tù binh Chiến tranh Phú Quốc do 3 tiểu đoàn quân cảnh (7, 8, 12) canh giữ.
Ngoài ra, Phú Quốc cũng có một trại giam tù hình sự, giam giữ những tù nhân thường phạm bị kết án 10 năm trở lên, ở thị trấn Dương Đông, mặt tây của đảo.
Cuối năm 1949 đầu năm 1950, quân của Trung Hoa Quốc dân đảng thua trận trước Quân giải phóng Trung Quốc, rút chạy dạt sang Việt Nam. Lực lượng này có trên 3 vạn người, được Pháp đưa ra đóng tại phía nam đảo Phú Quốc một thời gian trước khi quay về Đài Loan theo Tưởng Giới Thạch.
Tận dụng nhà cửa có sẵn của trại lính Quốc dân đảng, quân Pháp lập một trại giam tù binh trên một diện tích gần 40 hécta, gọi là “Căng Cây Dừa” (Trại Cây Dừa). Trại gồm 4 khu nhà giam A, B, C, D. Các tù binh cộng sản bị Pháp bắt từ các chiến trường Trung, Nam, Bắc Việt Nam bị tập trung đưa ra trại giam này ở Phú Quốc. Số tù binh này gồm khoảng 14.000 người, đa số từ nhà tù Đoạn Xá (Hải Phòng). Cũng như tại các nhà tù khác trong Chiến tranh Đông Dương, tù nhân cộng sản tại Trại Cây Dừa sinh hoạt đấu tranh chống khủng bố, đàn áp, và tổ chức vượt ngục. Sau hơn 1 năm ở trại, có 99 tù nhân bị chết, 200 người vượt ngục.
Tháng 7 năm 1954, sau Hiệp định Genève, Pháp trao trả cho phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hầu hết tù binh ở trại này.
Cuối năm 1955, chính quyền Ngô Đình Diệm xây dựng một trại giam ở địa điểm Căng Cây Dừa cũ, với diện tích rộng 4 ha, đặt tên là Trại huấn chính Cây Dừa, còn gọi là Nhà lao Cây Dừa. Trại tù có nhà giam tù nam, nhà giam tù nữ, nhà giam phụ lão. Ngày 5 tháng 1 năm 1956, 598 người tù từ trại Trung tâm huấn chính Biên Hòa được đưa đến đề lao Gia Định, rồi đưa xuống tàu vận tải Hắc Giang của hải quân chở từ Sài Gòn về đến Phú Quốc. Về sau còn có thêm một số tù chính trị thuộc diện "Việt Cộng" hoặc "thân Cộng" cũng được đưa đến Trại huấn chính Cây Dừa.
Trong 7 tháng, từ tháng 2 đến tháng 9 năm 1956, có khoảng 100 tù nhân vượt ngục, trong đó có một số người bị bắn chết khi vượt rào. Các ông Phạm Văn Khỏe (em ruột của Phạm Hùng), và Mai Thanh (Tỉnh ủy viên, Bí thư Thị ủy Rạch Giá) cũng vượt ngục trong thời gian này. Thấy tình hình bất ổn, năm 1957, chính quyền Sài Gòn đưa số tù chính trị ở “Trại huấn chính Cây Dừa” về đất liền, và đày một số ra nhà tù Côn Đảo.
Khi chiến tranh Việt Nam leo thang, số tù binh và tù chính trị tăng cao, chính quyền Việt Nam Cộng hòa xây dựng thêm nhiều trại giam tù binh ở Biên Hòa, Pleiku, Đà Nẵng, Cần Thơ, Quy Nhơn... Tại Phú Quốc, năm 1966, một trại giam rộng hơn 400 ha được xây dựng ở thung lũng An Thới, cách “Căng Cây Dừa” cũ 2km. Trại giam gồm 12 khu, mỗi khu có 4 phân khu A, B, C, D, với trên 400 nhà giam, được gọi là Trại giam tù binh cộng sản Việt Nam / Phú Quốc, thường được gọi là Trại giam tù binh Phú Quốc. Mỗi phân khu, ngoài 9 phòng để tù binh ở, có 2 phòng để thẩm vấn, phạt vạ hoặc biệt giam tù binh ... Tất cả 11 phòng đều có cấu trúc vì kèo sắt, nóc tôn, vách tôn, mỗi phòng bề ngang 5 mét, dài 20 mét, hai đầu chừa hai lối ra vào, bề ngang khoảng 8 tấc và mỗi bên vách tôn có 4 cửa sổ, dưới vách tôn có khoảng trống chừng 3 tấc, có rào dây kẽm gai. Để canh gác khu trại giam, chung quanh mỗi khu giam có một pháo đài canh gác có đặt súng đại liên; tại cổng chính của khu giam có 2 vọng gác; một vọng tổng kiểm soát đốc canh, 2 giờ thay phiên gác một lần, liên tục 24/24 giờ; hai xe tuần tra liên tục quanh khu giam; ban đêm còn có các toán vào vòng rào giới hạn để kiểm soát lưu động tại các phân khu và 10 vọng gác di động. Đứng đầu ban chỉ huy trại giam là một trung tá hoặc đại úy (có lúc là một chuẩn tướng) Quân lực Việt Nam Cộng hòa, đằng sau là một cố vấn Mỹ. Lực lượng canh giữ trực tiếp trại giam gồm có 4 tiểu đoàn quân cảnh, một liên đội địa phương quân, một đại đội công binh, một đơn vị hải thuyền và một đội quân khuyển.
Nhà tù Phú Quốc trở thành trại giam tù binh trung tâm toàn Việt Nam Cộng hòa, giam giữ hơn 32.000 tù binh (40.000 tù nhân nếu tính cả tù chính trị nhiều thời kỳ). Có khoảng 12.000 tù nhân là bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, trong đó có khoảng 9000 người từ miền Bắc. Có trên 20.000 tù nhân là dân quân du kích xã, ấp và cán bộ chính trị. Có hơn 2.000 sĩ quan, hạ sĩ quan; trên 100 tù nhân là cán bộ cộng sản có trình độ chính trị trung cấp, sơ cấp (trong đó có 10 tỉnh ủy viên, trên 40 huyện ủy viên) và trên 200 chi ủy viên. Vào tháng 5-1969 tù binh đã tổ chức vượt ngục thành công tại khu B2.
Trong Chiến tranh Việt Nam, tù binh chiến tranh Trại giam tù binh Phú Quốc đã phải chịu những hình phạt, tra tấn như đóng đinh vào tay, chân, đầu; đốt dây kẽm cháy đỏ đâm vào da thịt, đục răng, trùm bao bố chế nước sôi hoặc đổ lửa than, ném vào chảo nước sôi, thiêu sống, chôn sống. Trong thời gian tồn tại không đầy 6 năm (từ tháng 6/1967 đến 3/1973) trại giam tù binh Phú Quốc, có hơn 4.000 người chết, hàng chục ngàn người bị thương tật tàn phế.
Một số nhục hình tại nhà tù Phú Quốc theo lời kể của các cựu tù nhân:
- "Đóng kim": dùng những cây kim chích đã cũ, đóng từ từ vào 10 đầu ngón tay.
- "Chuồng cọp kẽm gai": loại chuồng cọp làm toàn bằng dây kẽm gai, được đan chằng chịt xung quanh và trên nóc. Chuồng cọp này đặt ở ngoài trời trong phân khu. Mỗi phân khu có đến hai, ba chuồng cọp - loại nhốt 1 người và loại nhốt 3-5 người. Kích thước chuồng cọp rất đa dạng, có loại cho tù nhân nằm trên đất cát, có loại buộc tù nhân phải nằm trên dây kẽm gai, có loại chỉ nằm hoặc đứng; có loại chỉ ngồi lom khom; loại phải đứng lom khom, không đứng thẳng được mà ngồi xuống thì sẽ phải ngồi trên dây kẽm gai. Tù nhân phải cởi áo, quần dài, chỉ được mặc quần cụt để phơi nắng, phơi sương, dầm mưa suốt ngày đêm.
- "ăn cơm nhạt": tù nhân không được ăn muối, sau hai tháng mắt sẽ bị mờ, sau 5-6 tháng liền có người bị mù hẳn.
- "lộn vỉ sắt": các tấm vỉ sắt loại có lỗ tròn và đầy mấu để mắc vào nhau và lật ngửa làm "đường băng sân bay" rồi bắt tù binh cởi áo, cởi quần ngoài, chỉ còn chiếc quần đùi. người tù bị bắt cắm đầu xuống vỉ sắt lộn ra sau, sau vài lần là lưng người tù tóe máu, đầu bị bứt tóc, tróc da tơi tả.
- "gõ thùng": lấy thùng phuy úp lên tù nhân đang ngồi xổm, rồi gõ vào thùng. Tù nhân sẽ bị đau đầu, sẽ bị điếc vì tiếng gõ mạnh và sức ép không khí. Cũng bằng cách gõ vào thùng phuy đổ đầy nước, bên trong thùng là tù nhân. Kiểu tra tấn này có thể khiến tù nhân bị hộc máu vì sức ép của nước.
- "đục răng" và "bẻ răng": kê đục vào sát chân răng của người tù, dùng búa đóng làm răng gẫy văng ra.
- "roi cá đuối": giám thị dùng những chiếc roi cá đuối dài, đem phơi để đánh tù. Trước khi bị đánh, tù nhân phải cởi áo để bị đánh vào da thịt trần. Roi cá đuối thường quấn lấy thân nạn nhân, rồi giật ra, làm da thịt bị đứt theo. Giám thị sau đó có thể lấy muối ớt xát vào da thịt nạn nhân. Đầu năm 1970, phái đoàn Hồng Thập Tự Quốc tế khi đến thị sát nhà tù Phú Quốc đã bắt gặp một chiếc roi cá đuối dính máu khô.
- "đóng đinh": những chiếc đinh 3 phân được dùng để đóng vào các ngón tay của tù binh trong quá trình tra tấn. Mỗi lần bị đóng đinh, xương ngón tay của người tù bị vỡ nát. Ngoài ra còn có loại đinh 7, 8 phân hoặc cả tấc để đóng vào thân người tù ở các vùng: cổ chân, khớp vai, mắt cá, ống quyển, đầu. Có người bị đóng đinh đến chết, sau này khi bốc mộ vẫn còn đinh găm trong hài cốt.
- lấy bao bố trùm lên người tù rồi ném vào chảo nước sôi. Ba người tù ở phân khu C6 đã bị luộc chết.
- dùng bóng đèn công suất lớn để sát mặt người tù trong thời gian dài cho nổ con ngươi.
- dùng lửa đốt miệng, bộ phận sinh dục.
Tổ chức Chữ thập Đỏ, 1972. Các nhà quan sát của tổ chức này đã thấy sự tàn bạo có hệ thống và kéo dài tại nhà tù. Họ tìm được các vật chứng của nhục hình ở các tù binh, trong đó có các vết sẹo do tra tấn bằng điện, thể hiện của sự thiếu ăn, suy dinh dưỡng. Tháng 8 năm 1971, một điều tra viên của Sứ quán Mỹ tại Việt Nam Cộng hòa báo cáo về sự đánh đập tù nhân tại Phú Quốc vẫn tiếp diễn. Trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa, lực lượng canh gác tại nhà tù được đánh giá chỉ bằng số tù binh trốn trại, không có cố gắng nào trong việc kỷ luật các giám thị xử tệ với tù nhân. Sau các kết quả điều tra của MACV và Sứ quán Mỹ, Tướng Cao Văn Viên, tổng chỉ huy QLVNCH, vẫn khẳng định rằng các đoàn kiểm tra của tổ chức Chữ thập Đỏ quốc tế đã báo cáo sai lệch về tình trạng ở nhà tù. đã đến nhà tù Phú Quốc vào những năm 1969
Năm 1995, Khu di tích lịch sử Nhà tù Phú Quốc được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận di tích cấp quốc gia. Di tích lịch sử Nhà tù Phú Quốc gồm có tượng đài hình nắm tay, là "biểu tượng của sự đàn áp khốc liệt và tinh thần hiên ngang vùng lên phá xiềng của tù binh Phú Quốc, nghĩa trang liệt sĩ, và khu Trại giam Tù binh Phú Quốc được phục dựng.
VƯỜN QUỐC GIA NGUYÊN SINH
Lá phổi xanh của Phú Quốc
Vườn quốc gia Phú Quốc
Vườn có hơn 530 loài thực vật cùng 150 loài động vật gồm 12 chi, 69 họ, 365 loài chim với các loài hiện có tên trong danh sách các loài quý hiếm, mà hiếm nhất là sói rừng và khỉ bạch. Đại mộc cao khoảng 20-30 m làm thành một sinh tầng cao với các loại cây: vên vên, dầu song nàng, dầu cát, cầy, dẻ, săng sót, da, bứa... Ông Huỳnh Phước Huệ, giám đốc Art gallery Cội Nguồn, cho biết mùa cua, người ta gọi là hoa sữa, có mặt ở đảo từ lâu đời, có cây gốc tới 2-3 người ôm.
Con đường quốc phòng màu đất đỏ và màu lá cây rụng, ngoằn ngoèo vươn lên cao, có nơi băng đèo, một bên vách núi một bên vực biển sâu, lâu lâu thấy một bầy khỉ băng qua đường. Rừng kín mít hai bên, dù chưa tới "đỉnh trời", nhưng không khí mát khoẻ khoắn cứ phả vào sảng khoái. Cuối con đường dài 20 km này là vạt rừng sát biển, nơi tận cùng đất nước, lại lạc vào "thiên thai" khi nhìn thấy một cây tùng mọc chồm ra hướng biển. Lá tùng nhỏ như kim, từng chòm màu xanh đậm in trên nền trời xanh lam, khiến như lạc vào một xứ sở huyền thoại nào đó qua những bức tranh thuỷ mặc. Thảm thực vật khổng lồ này có hàng hàng lớp lớp thực vật ký sinh. Phong lan, dương xỉ… đeo bám trên lưng chừng cành. Dây leo bông trắng nổi bật trên thân cây xù xì, xám mốc, hàng bao nhiêu đoá rơi rụng tạo một nền trắng muốt phủ trùm mặt đất.
SÔNG CỬA CẠN
Dòng sông trên Bắc đảo
Cách đây không lâu, nhắc đến tên hòn đảo này người ta chỉ hay nhớ tới địa danh nổi tiếng của các sản vật hạt tiêu hay nước mắm Phú Quốc, một sản phẩm truyền thống có từ hàng trăm năm qua, giờ đã trở thành một thương hiệu mang tính bản quyền quốc gia.
Chỉ mới mươi năm trở lại đây thôi, hòn đảo lớn với dân cư thưa thớt gần 800 nghìn dân này bỗng nhiên trở thành điểm thu hút khách du lịch từ khắp nơi đổ về để được phát hiện, thưởng ngoạn phong cảnh thiên nhiên sơn thủy kết hợp hài hòa một cách hiếm hoi giữa biển, rừng, sông núi.
Muốn khám phá vẻ nguyên sơ của Phú Quốc, ta hãy lên phía bắc đảo. Đi sâu vào bên trong những cánh rừng nguyên sinh, du khách sẽ bắt gặp một hệ động thực vật vô cùng phong phú với rất nhiều loài chim thú sống giữa một khung cảnh thiên nhiên hoang dã đến không ngờ.
Những ngọn núi trùng điệp trên đảo phủ đầy cây xanh, tạo ra những dòng suối trong veo, ngày đêm róc rách. Giữa rừng già, tiếng chim hót líu lo, tiếng róc rách có khi lại ào ào của dòng suối như một bản tình ca êm đềm, hòa hợp giữa con người với thiên nhiên.
Phú Quốc có nhiều con suối nổi tiếng và hoang sơ, như suối Đá Bàn, suối Tiên, suối Hang, suối Tranh... Nổi tiếng nhất là suối Tranh, con suối dài hơn 15 km, uốn lượn trên những ghềnh đá, lúc ẩn lúc hiện dưới tán lá xanh của rừng.
Nhiều khách du lịch ra đến Phú Quốc đã cảm thấy thú vị được làm cái chuyện ngược đời là ra đảo để tắm suối. Quả thực giữa cái không khí mùa hè nóng nực, được vùng vẫy giữa dòng nước mát lạnh của núi rừng bắt nguồn từng lòng đất ai mà không cảm thấy như trút được hết những mệt nhọc ưu phiền của đời thường.
Hết lên rừng, du khách có thể xuống biển ngay. Sau khi đã đi xuyên qua những cánh rừng nguyên sinh bằng các con đường mòn đất đỏ, mở ra trước mắt du khách là cảnh biển trời mênh mang sóng nước. Biển xanh trong vắt, bãi cát trắng chạy dài tít tắp tưởng như đến vô tận. Đảo Phú Quốc có một quần thể bãi tắm đẹp nổi tiếng. Mới đây báo chí nhiều nước trên thế giới đã xếp các bãi biển của Phú Quốc vào loại đẹp nhất thế giới còn hoang sơ và ít người biết đến.
SUỐI TRANH
Khám phá khu thác nước tự nhiên
Để dành cho những ai thích khám phá nhiều hơn nữa về biển. Phía Nam của đảo Phú Quốc còn có 12 hòn đảo nhỏ to khác nhau thuộc quần đảo An Thới, hay ở phía Bắc có hòn Móng Tay, hòn Đồi Mồi, hòn Bần và hòn Thầy Bói... Đây là những nơi lý tưởng cho các hoạt động du thuyền, câu cá, bơi lặn ngắm san hô hay dã ngoại trên đảo hoang. Du khách có thể thuê tàu ra các đảo đi câu mực, hay phơi nắng tắm biển, hoặc đơn giản chỉ là để ngắm mặt trời lặn trên đại dương để tìm thấy cảm giác được hòa mình với thiên nhiên.
Gió biển mát dịu cùng với các bãi biển cát trắng tiếp giáp với nước biển xanh trong vắt như pha lê làm cho nơi đây thực sự như một "thiên đường".
Phú Quốc không chỉ hút hồn du khách ở tiếng rì rào của sóng biển bên những bãi cát trắng ngà, tiếng róc rách của nhưng khe suối trong rừng già. Biển rừng, sông, suối của Phú Quốc đã chắt lọc cho hòn đảo trù phú này nhiều sản vật, sơn hào hải vị. Phú Quốc sở hữu một nguồn hải sản vô cùng phong phú mà không phải miền đất nào cũng có được, nào tôm, mực, cua, nào bào ngư, cá trích, cá cơm...
Ra đảo Phú Quốc thưởng thức các món ngon lạ của biển, sẽ là thiếu nếu trên bàn ăn không có chai rượu Sim Phú Quốc. Cây sim rừng mọc ở khắp nơi tại Việt Nam, nhưng dường như chỉ có ở Phú Quốc người ta mới chế biến nó thành một thứ rượu vang sim đặc sản mang đậm phong vị của núi rừng.
ĐẢO NHỎ
Nét đăc trưng của Phú Quốc
Trái sim rừng được hái về rửa sạch, chọn quả chín mọng xay nhuyễn và ủ lên men với đường cát theo một tỷ lệ nhất định trong môi trường hiếm khí từ 40 đến 45 ngày. Sau khi sản phẩm lên men hoàn chỉnh ta sẽ được một loại rượu màu hồng, uống có vị cay chua ngọt gần giống như rượu vang nho với nồng độ khoảng 11,5% độ cồn.
Thật đúng là « hữu xạ tự nhiên hương », phong cảnh sơn thủy hữu tình cùng những sản vật độc đáo mà thiên nhiên đã ban tặng cho Phú Quốc đã nhanh chóng thu hút du khách khắp nơi trên thế giới đến với hòn đảo. Từ một đảo thuần nông và ngư nghiệp, trong mấy năm gần đây Phú Quốc như đang chuyển mình trong một cuộc sống mới là làm du lịch. Số lượng du khách đến đảo ngày càng đông, hàng năm lên đến cả triệu người và chắc chắn sẽ còn rất đông.
Rất nhiều dự án dịch vụ du lịch ở Phú Quốc đang mở ra để Phú Quốc không chỉ đón khách thập phương đến nghỉ ngơi bằng cảnh đẹp hoang sơ thơ mộng mà còn bằng cả lòng hiếu khách và sự phục vụ chu đáo. Của ngon vật lạ của Phú Quốc còn rất nhiều để mỗi du khách tới đảo tự khám phá theo cách riêng của mình cái thú vị được hưởng hương rừng vị biển của hòn đảo lớn mang cái tên « miền đất giàu có ». |